0-1-N-100
Từ phát minh đến phổ cập
![]()
Một tổ chức khoa học – công nghệ trong lĩnh vực dược, mỹ phẩm và sản phẩm sức khỏe đã có nhiều năm nghiên cứu. Họ không chỉ làm nghiên cứu trên giấy, mà đã phát triển hơn 20 đề tài, trong đó có những công nghệ có thể đưa ra ứng dụng ở quy mô công nghiệp. Một hướng đi tiêu biểu là khai thác phụ phẩm nông nghiệp, như chuối lỗi, chuối nhỏ, chuối không đạt chuẩn xuất khẩu, để tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn thay vì chỉ bán rẻ làm thức ăn chăn nuôi.
Về mặt nghiên cứu, doanh nghiệp đã đi được một chặng rất khó: tìm ra công nghệ, thử nghiệm, sản xuất thử và chứng minh khả năng làm ở quy mô lớn. Nhưng khi bước sang thương mại hóa, họ bắt đầu gặp nút thắt: cần vốn để xây cơ sở sản xuất đạt chuẩn, cần biết định giá kết quả nghiên cứu, cần tìm đối tác, cần mô hình kinh doanh và cần năng lực bán hàng cho thị trường. Nói cách khác, họ đã có công nghệ, nhưng chưa chắc đã có sản phẩm thương mại, càng chưa có năng lực phổ cập sản phẩm ra thị trường.
Đây chính là bối cảnh của công thức 0-1-N-100.
0-1 là chặng tạo ra cái chưa có: công nghệ mới, tri thức mới, phát minh mới. Với tổ chức nghiên cứu nói trên, đó là quá trình tìm ra cách khai thác nguyên liệu nông nghiệp dư thừa để tạo ra sản phẩm có hàm lượng giá trị cao hơn. Đây là chặng rất khó, cần chuyên môn, thời gian, phòng thí nghiệm, thử nghiệm và năng lực khoa học.
Nhưng từ 1 đến N lại là một năng lực khác. Có công nghệ rồi phải biến nó thành nhiều sản phẩm, nhiều ứng dụng, nhiều phiên bản và nhiều lời giải cho các nhóm khách hàng khác nhau. Sản phẩm đó dành cho doanh nghiệp thực phẩm, doanh nghiệp dược, doanh nghiệp xuất khẩu, người tiêu dùng cuối hay đối tác sản xuất? Đóng gói thế nào, tiêu chuẩn ra sao, giá bán bao nhiêu, thử nghiệm với khách hàng nào, kênh phân phối nào, thông điệp giá trị là gì?
Chặng N đến 100 còn khó hơn theo một nghĩa khác: đưa sản phẩm ra thị trường rộng, tạo doanh thu, tạo thói quen sử dụng, xây kênh phân phối, kiểm soát chất lượng, vận hành sản xuất, truyền thông giá trị và làm cho số đông chấp nhận. Nhiều công nghệ tốt thất bại không phải vì công nghệ kém, mà vì không đi được đến chặng phổ cập. Có sản phẩm tốt nhưng không bán được, không mở rộng được, không tạo được thị trường thì vẫn chưa tạo ra giá trị lớn.
Vì vậy, lời giải cho các viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ không phải là phải có đủ ba bộ phận: nghiên cứu tạo ra công nghệ, phát triển sản phẩm và thương mại hóa. Công thức khoa học – công nghệ được khái quát là 0 → 1 → N → 100%.
Với tổ chức nghiên cứu nói trên, bộ phận nghiên cứu tiếp tục làm nhiệm vụ tạo công nghệ, sở hữu tri thức, chứng minh khả năng kỹ thuật. Bộ phận phát triển sản phẩm phải chọn công nghệ nào đáng thương mại hóa, biến công nghệ thành sản phẩm hoàn chỉnh, kiểm nghiệm thị trường, xác định khách hàng mục tiêu, định giá và xây dựng luận chứng kinh doanh. Bộ phận thương mại hóa phải tìm doanh nghiệp đối tác, chuyển giao công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ, liên doanh, gọi vốn, phát triển kênh phân phối và đàm phán hợp đồng.
Tinh thần LGM Việt Nam là: đổi mới sáng tạo không dừng ở phòng nghiên cứu. 0 tạo ra khả năng; 1 tạo ra sản phẩm đầu tiên; N tạo ra nhiều lời giải và nhiều mô hình ứng dụng; 100 tạo ra phổ cập, doanh thu, tác động xã hội và lợi thế dài hạn. Doanh nghiệp Việt Nam không nhất thiết phải tự làm tất cả các chặng, nhưng phải biết mình đang ở chặng nào, thiếu năng lực nào và cần hợp tác với ai để đưa cái mới đi hết hành trình từ phát minh đến phổ cập.